Chùa Tây Phương (19/5/2010) 

NGƯU LĨNH SƠN – CÂU LẠC SƠN

Trang[ 2 ], [ 3 ], [ 4 ],[ 5 ], [ 6 ], [ 7 ], [ 8 ]

 

Núi chùa tây phương tên cổ gọi là núi Ngưu Lĩnh. Theo truyền thuyết phong thủy: Thềm núi Bà Vì về phía nam có dãy núi đất chạy xuống huyện Quốc Oai tựa như đàn trâu, có một quả núi như quay lại đón nước sông Tích phát nguyên từ các dòng suối rừng Ba Vì chảy xuống, quả núi đó được gọi là Ngưu Lĩnh Sơn ( núi Con Trâu ).

Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “ núi tây phương cách huyện Thạch Thất ba dặm về phía nam, có tên  là Cậu Lậu Sơn, huyện lỵ đóng ở chân núi. Núi Cậu Lậu có giống trâu lặn ở dưới nước ( sông Tích) thường lên bờ chọi nhau khi nào sừng mềm lại xuống nước (sông tích) ”.

 

Chùa Tây Phương trông theo hướng đông, nhìn ra gò Rồng Sông ( nay là xóm Đồng Sống) và gò Kim Quy còn gọi là Nủ Rùa ( nay thuộc thôn yên, xã thạch xá ). Hướng tây là dòng sông tích. Hướng nam là ní Con Voi, trên núi có chùa Lôi Ẩm thuộc Xã Cần Kiệm. Bên ngoài núi, hướng đông nam có núi Lý Ngư ( Cá Chép ). Hướng bắc là rừng núi Ba Vì.

 

Dưới chân núi Ngưu Lĩnh có dộc nước Chấn Song chảy theo ven chân núi ra sông Tích, bên Ngoài dộc nước là những cánh đồng Đạng Tròn có gò Đạng Tròn ( mặt trăng ), cánh đồng cửa núi, cánh đồng đậu…

 

Sách Đại Nam nhất thống chí chép… “ Cát Hồng đời Tấn muốn tìm thuốc đan sa trường sinh, bèn xin làm quan lệnh ở Câu Lâu, sau Cát Hồng luyện được thuốc tiên, vì thế trong thơ Đỗ Phủ có câu: “ Giao Chỉ Đan sa trọng…” ( Nghĩa là: Ở Giao Chỉ có đan sa quý…)”.

 

Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí Phan Huy Chú chép: “ Núi Câu Lậu có tên là núi Tây Phương ở xã Cần Kiệm huyện Thạch Thất, chân núi có sông Tích cảnh thú vắng vẻ, núi này là núi đất sắc đỏ, khi trước Cát Hồng người nhà Tấn sang làm chức quan Lệnh ở Giao Chỉ thường luyện thuốc tiên ở đây…”

 

Trong thông báo triết học số 23 (ra tháng 4-1973) trang 46 giáo sư Vũ Khiêu viết: “Khoảng niên hiệu Hàm Hòa đời Đông Tấn Cát Hồng từ chối không nhận chức Tân kỵ thường thị đại trước tác, vì tuổi già muốn tự luyện đan để cầu sông lâu. Nghe tin ở Giao Chỉ có thứ đan sa, Cát Hồng xin làm Huyện lệnh Câu Lậu”.

 

 Qua các nguồn tài liệu trên chúng ta thấy: Ngưu Lĩnh sơn (núi con Trâu) chính là núi chùa Tây Phương ngày nay. Theo thuyết phong thủy, đây là nơi địa linh của con sông đất nước ta.

 

Còn có tên núi Câu Lậu là do từ đời Đông Tấn đô hộ đất Giao Chỉ huyện lỵ Câu Lâu đóng ở vùng chân núi nên cũng gọi núi Ngưu Lĩnh là núi Câu Lậu.

trang 2

SÙNG PHÚC TỰ - TÂY PHƯƠNG CỔ TỰ

NƠI ĐỊA LINH NHÂN KIỆT

1. Sách Di tích và danh thắng tỉnh Sơn Tây do ty văn hóa Sơn Tây xuất bản 1958 (trang 8) chép: “Chùa Tây Phương do ai làm và làm từ bao giờ, đến nay chưa xác minh được rõ. Truyền thuyết để lại thì vào đời nhà Tấn đô hộ, ông Cát Hồng khi sang làm Lệnh doãn quận Giao Chỉ thấy cảnh núi non hùng vĩ, lên núi này luyện thuốc tiên.

 

Tiếp đến đời Cao Biền nhà Đường (864-868) sang làm Đô hộ sứ có đến đây xây chùa. Trong sách Kiều Cao Vương còn ghi lời Cao Biền tâu với vua Đường: “Câu Lậu chi sơn, huyệt tại trung cấp thần dĩ tác tự dĩ yểm chi…”.

(Nghĩa là: Núi Câu Lậu có huyệt tại cấp giữa, thần đã làm chùa yểm đi rồi)

 

2. Tài liệu đánh máy (4-6-1958) của Vụ bảo tồn bảo tàng cũng ghi:

Sách Kiều Cao Vương ghi lời Cao Biền tâu với vua Đường: “Câu Lậu chi sơn, huyệt tại trung cấp thần dĩ tác tự yểm…”

 

Truyền thuyết Cao Biền yển long mạch đất ở núi Câu Lậu còn lưu lại trong dân gian cũng như chuyện Cao Biền dậy non… Nhưng chính Cao Biền đã phải thốt lên: - “Sinh khí ở phương Nam không thể lường được. Ôi ! Cái vượng khí đời nào hết được? Ta ở lâu tất chuốc lấy tai vạ, ta phải mau mau trở về…”

 

3. Lịch sử xã Thạch Xá ( xã sở tại chùa Tây Phương) do Đảng bộ xã xuất bản (6-1997) trang 9,10 có ghi: “ Núi Câu Lậu tương truyền là một ngọn núi hùng, thiêng liêng nhất vì nơi đây có huyệt sinh nguyên khí. Nếu đỉnh núi vẫn giữ nguyên được vẻ thiên tạo của núi thì nơi địa linh này ắt phải sinh Vương, sinh nhân kiệt. Vì vậy người Tầu làm chùa trên núi để yểm…”.

 

Trang 25 sách này chép tiếp: “Trong những công trình của quê hương trước hết phải kể đến chùa Tây Phương, loại trừ mục đích làm chùa để yểm huyệt đất của người Tầu (Cao Biền) phải nói đây là một công trình văn hóa, đã vượt ra khỏi địa phương để so sánh với tâm cao của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc.

trang 3

  1. LỊCH SỬ CHÙA TÂY PHƯƠNG

Đạo phật du nhập vào Giao Chỉ. Từ lâu, trên núi Câu Lậu nhân dân Giao Chỉ cũng chỉ xây dựng lên một ngôi chùa thờ Phật cũng như ở nhiều nơi trong nước, điển hình như vùng Dân Keo (huyện Thuận Thành - Bắc Ninh) lúc bấy giờ.

 

Bên cạnh đạo Phật, đạo Lão cũng thịnh hành, các đạo sĩ sang ta trong đó có Cao Biền. Chuyện yểm long mạch đất làm chùa ở núi Câu Lậu gieo rắc dị đoan cho rằng từ nay đất Giao Chỉ không còn đất làm vua…

 

Đến thế kỷ thứ mười, Ngô Vương mở đầu kỷ nguyên độc lập tự chủ (939) tiếp đến các vương triều Đinh, Tiền Lê, Lý , Trần đạo Phật đã trở thành quốc đạo. Trong nước xây dựng nhiều chùa lớn như: Chùa Đọi Sơn (Hà Nam) : chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Thầy, chùa Đậu, chùa Trăm Gian (Hà Tây)…

 

Vương triều nhà Trần còn lập ra một tông phái Trúc Lâm ở núi Yên Tử mà vua Trần Nhân Tông (1259-1308) là Tổ đệ nhất.

 

Công cuộc chống quân Minh xâm lược thắng lợi. Cũng như nhiều ngôi chùa khác, phần do thiên nhiên thời gian nắng mưa hủy hoại, phần do chiến tranh tàn phá, ngôi chùa cổ Tây Phương xưa không còn nguyên nữa.

 

Chùa Tây Phương hiện nay với kiểu kiến trúc cổ Việt Nam kiểu cổ diêm tám mái, dáng dấp “thượng sơn lâu đài, hạ sơn lưu thuỷ”, được xây dựng từ bao giờ? Và các pho tượng La Hán, tượng Kim Cương được tác tạo ở các triều đại nào? Cách ta ngày nay là thời gian cũng như đã qua bao lần tu sửa? Ở đây chúng tôi xinh cung cấp một số tư liệu để bạn đọc tham khảo.

 

1. Tư liệu của Vụ bảo tồn bảo tàng (tài liệu đánh máy 4-6-1958) cho biết: Từ năm Đinh Dậu (1957) đến năm Mậu Tuất (1958) Vụ bảo tồn bảo tàng cung ty văn hóa tỉnh Sơn Tây thực hiện kế hoạch tu sửa chùa Tây Phương đã bị giặc phá hư hỏng nặng trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

 

Khi tiến hành thi công dỡ ba ngôi chùa, người ta phát hiện thấy trên nóc giữa các ngôi chùa có dòng chữ đục chìm vào gỗ, ghi lại niên đại làm chùa và sửa chùa với kiến trúc như hiện nay.

  • Ở nóc ngôi chùa Thượng ghi: “Năm Giáp Dần quý đông tạo” (nghĩa là : năm Giáp Dần tháng 12 làm chùa)
  • Ở nóc ngôi chùa Trung (giữa) ghi : “Giáp Dần quý đông cát nhật; Canh Tý mạnh thu cát nhật tu lý” (nghĩa là: năm Giáp Dần tháng 12 ngày tốt làm chùa. Năm Canh Tý tháng 7 ngày tốt tu sửa chùa)
  • Ở nóc ngôi chùa Hạ (chùa ngoài) ghi: “Canh tý trọng thu cát nhật tu lý” (nghĩa là : năm Canh Tý tháng 8 ngày tốt tu sửa chùa).

2. Theo sách Di tích và Danh thắng tỉnh Sơn Tây do ty văn hóa Sơn Tây xuất bản 1958 trang 10 ghi: “Năm Giáp Dần đời Mạc Phúc Nguyên (1547-1561) niên hiệu Quang Bảo năm thứ nhất chùa được làm quy mô ngày nay.

 

Năm Canh Tý đời vua Lê Thần Tông niên hiệu Vĩnh Thọ năm thứ 3 (1660) Chúa Tây Vương Trịnh Tạc (1657-1682) đã qua đây thấy cảnh chùa trang nghiêm đẹp đẽ nên cho tu sửa và làm tam quan”.(Nay tam quan đã đổ nát).

 

3. Tài liệu của Ty Văn hóa Hà Tây ghi: “Đến giữa thế kỷ thứ 16 năm Giáp Dần đời vua Lê Trung Tông niên hiệu Thuận Bình năm thứ 6 (1554) chùa được xây dựng lại theo quy mô như hiện nay…”

 

Các nguồn tài liệu ghi trên đều ghi năm Giáp Dần xây dựng lạ chùa, nhất là những dòng chữ đục chìm vào các nóc chùa mà Vụ bảo tồn bảo tàng ghi lại được khi sửa chữa (1958) cho ta niềm tin cậy. Đối chiếu niên biểu Việt Nam với dương lịch, niên hiệu đời vua qua các triều đại chúng ta biết rằng:

 

- Mạc Phúc Nguyên (1547-1561) niên hiệu Quang Bảo nguyên niên là Giáp Dần.

- Lê Trung Tông (1549-1556) niên hiệu Thuận Bình năm thứ sáu là năm Giáp Dần

- Các dòng chữ đục trên các nóc chùa đều ghi năm Giáp Dần làm chùa

Như vậy đối chiếu với năm dương lịch thì năm 1554 (Giáp Dần) chùa Tây Phương được xây dựng như ngày nay.

Và năm Canh Tý (1660) đời vua Lê Thần Tông niên hiệu Vĩnh Thọ (1658-1661) Chúa Tây Vương Trịnh Tạc (1657-1682) cho tu sửa lớn cả ba ngôi.

trang 4

NHỮNG LẦN TU SỬA SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM ẤT DẬU (1945)

Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, từ năm Đinh Dậu (1957) đến năm Mậu Tuất (1958) Ty Văn hóa tỉnh Sơn Tây và Vụ bảo tồn bảo tàng tiến hành tu sửa chùa Tây Phương.

 

Từ năm Mậu Thân (1968) đến năm Bính Thìn (1976) các cán bộ của Cục bảo tồn bảo tàng và Ty văn hóa tỉnh Sơn Tây tiến hành: Sơ tán cất giấu tượng cổ La Hán, tượng Kim Cương; làm nhà khách nhà hậu; xây dốc lên chùa; xây bể nước lớn; xây tháp…

 

Từ năm Nhâm Thân (1992) đến năm Ất Hợi (1995) xưởng Tu sửa phục chế Bộ Văn hóa tiến hành trùng tu cả ba ngôi chùa và làm tam quan mới.

 

Như vậy tính từ năm Giáp Dần (1554) xây dựng lại chùa cho đến năm Ất Hợi (1995) là năm chùa được Bộ Văn hóa trùng tu, ngôi chùa đã trải qua 441 năm.

 

Dưới chùa Tây Phương về phía Tây Bắc , cách chùa chừng 150 mét còn có ngôi chùa nhỏ tên gọi Am Thanh bị phá hủy nhưng từ năm Đinh Sửu (1997) đến năm Kỷ Mão (1999) chùa được sư cụ ni trưởng Dàm Thanh cùng đệ tử là sư thầy Đàm Thủy nhờ nhân duyên của thập phương đã xây dựng lại hoàn hảo. 

 

 TÂY PHƯƠNG SƠN SÙNG PHÚC TỰ TẠO THẠCH BI

 BIA ĐÁ CHUÔNG ĐỒNG

Tây Phương sơn Sùng Phúc tự gia trí lục nghi thanh trai câu thất, đãn chí Nhâm Thân niên (1632) thập nhất nguyệt thập nhị nhật tái khởi công trung tu bản tự: thượng điện, thiêu hương hậu đường cập tân tạo tam quan, hành lang tiền hậu nhị thập nhị gian thổ mộc.

 

Thủy tạo Thái Thượng nhất tướng , nhất tướng Đế Thiên, nhất tướng Đế Thích, nhất tướng Thích Già toàn kim, nhất tướng Đại Thánh, nhất tướng Huyền Sư…(bia bị mờ). Nhất vân cảnh chí Ất Hợi niên (1635) nhị nguyệt sơ nhị nhất thiết hội an tượng phối trai hô thần đại pháp hội lưu nhất dạ.

 

Nhất hội chủ tất tu sự thạch trụ cập Nguyễn Xá thôn tự Đức Quang hiệu Thọ Chiếu thiếp Vũ Thị Lỗi hiệu Thảo Nhân.

Cường Dũng hầu tự Đức Nhân hiệu Pháp Trí, phu nhân Hoàng Thị Tài hiệu Từ Hiên.

Đại nguyên soái Thống quốc chính sư phụ Thanh Vương Trịnh Thiệu Thiên phủ chúa, Vĩnh Phúc huyện, Sóc Sơn xã, Công chúa Trịnh Thị Ngọc Xuân.

Phu Nghĩa phủ, Vĩnh Phúc huyện, Sóc Sơn xã Công chúa Trịnh Thị Ngọc Bổng tự Huệ Tiên hiệu Pháp Trứ.

Hạ Hồng phủ, Kỳ Sơn huyện, cải Miện Xã, Phú Lâm thôn, Thanh Lại tri nhạc bộ phò mã Lộc Quận Công…(bia bị quá mờ)

Đức Long thất niên tuế thứ Ât Hợi niên (1635) nhị nguyệt sơ nhị nhật.

 

Tạm dịch: 

Chùa Sùng Phúc trên núi Tây Phương dựng bia đá ghi

Chùa Sùng Phúc trên núi Tây Phương làm tự cổ xưa, cảnh cũ để lại nay đã hỏng nhiều chỗ. Năm Nhâm Thân (1632) tháng mười một ngày mười hai khởi công tu sửa thiêu hương, thượng điện, nhà hậu, làm mới tam quan. hành lang trước sau, hai mươi hai gian bằng gỗ lợp ngói.

 

Và lần đầu tiên tạc tượng Thái Thượng, tượng Đế Thiên, Đế Thích, tượng Thích Ca, tượng Dược Sư, tượng Huyền Sư, tượng Đại Thánh đều sơn thiếp phủ vàng…

 

Đến năm Ất Hợi (1635) xong công việc, tháng hai ngày mồng hai mở hội an tượng, hội mở một đêm cúng hô thần nhập tượng.

 

Nhà chùa cùng dân thôn Nguyễn Xá và ông Đức Quang hiệu Thọ Chiếu cùng vợ hai là bà Vũ Thị Lỗi lo liệu mọi công việc và dựng bia để lại.

 

Đại nguyên soái Thông quốc chính sư phụ Thanh Vương (Trịnh Tráng) cùng công chúa Trịnh Thị Ngọc Xuân công đức. Công chúa Trịnh Thị Ngọc Bổng tự Huệ Tiên hiệu Pháp Trứ xã Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc, phủ Phu Nghĩa. Thanh Lại tri nhạc bộ phò mã Lộc Quận công thôn Phú Lâm, xã Cải Miện, huyện Kỳ Sơn, phủ Hạ Hồng công đức.

 

Đức Long năm thứ 7 ngày 2 tháng 2 năm Ất Hợi (1635).

trang 5

BI HẬU

(Phiên âm chữ Hán)

Nam mô A Di Đà Phật.

Đại Việt quốc, Sơn Tây đạo, Quốc Uy (Oai) phủ, An Sơn huyện, Đan Sơn xã, Trung thôn.

Sa di Lê Huệ tính Chân Linh Chính Giác Quảng Đức thiền sư xuất gia đầu Phật trụ trì chùa Tây Phương sơn Sùng Phúc tự phần hương chức:

Thánh thọ an quốc, thiên hạ thái bình dân khang vật phú.

Nguyên cổ tích danh lam tam quan đồi tệ. Vi hữu hưng công cấu tác tân tạo tam quan nhất sở, hành thượng tự Kỷ Tỵ niên (1689) chí Canh Ngọ niên (1690) tam nguyệt cốc nhật cưu công hoàn hảo.

Tác chủ công đức sở hữu tính danh khai trần vu thạch.

Quốc Uy phủ, Thạch Thất huyện, Nguyễn Xá thôn, thiện sĩ Nguyễn Văn Đạt, thê Đỗ Thị Duyên.

Huệ tài Tiến sĩ Nguyễn Tiến Đông, thê Nguyễn Thị Nhớn.

Tín vãi Nguyễn Thị Đãi, Nguyễn Thị Thành, tín sĩ Đỗ Văn Giáp, Nguyễn Văn An.

Diễn Châu phủ, Quỳnh Lâm huyện, Thạch Đổng xã, thiên cư tại Thạch Thât huyện, Nguyễn Xá xã, Triền thôn tín sĩ Hoàng Đình Hữu, Hoàng Đình Điền…

Chính Hòa thập nhất niên tuế thứ Canh Ngọ niên (1690) lục nguyệt cốc nhật.

Lương y Nguyễn Đăng Tiến soạn bi văn. An Sơn huyện, Tử Trầm xã, xã trưởng Nguyễn Hữu Dụng khắc.

 

Tạm dịch:

Bia để lại đời sau

Nam mô A Di Đà Phật.

Nước Đại Việt, đạo Sơn Tây, phủ Quốc Oai, huyện An Sơn, xã Đan Sơn, thôn Trung.

Sư ông Lê Huệ tự Chân Linh Chính Giác Quảng Đức thiền sư xuất gia đầu Phật ở tại chùa Sùng Phúc trên núi Tây Phương thắp hương chúc:

Vua sống lâu, nước bình yên, nhân dân thịnh vượng giàu có.

Ngôi tam quan chùa đổ nát. Ngày nay làm lại mới ngôi tam quan xưa.

Khởi công từ năm Kỷ Tỵ (1689) đến tháng ba năm Canh Ngọ (1690) ngày tốt hoàn thành.

Thập phương công đức đều ghi tên vào bia đá.

Thôn Nguyễn Xá, huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai thiện sĩ Nguyễn Văn Đạt cùng vợ là Đỗ Thị Duyên.

Tiến sĩ Nguyễn Tiến Đông cùng vợ là Nguyễn Thị Nhớn.

Nguyễn Thị Đãi, Nguyễn Thị Thành, Đỗ Văn Giáp, Nguyễn Văn An.

Hoàng Đình Hữu, Hoàng Đình Điền… ở xã Thạch Đổng, huyện Quỳnh Lâm, phủ Diễn Châu.

Niên hiệu Chính Hòa năm thứ 11 Canh Ngọ (1690).

Thầy thuốc Nguyễn Đăng Tiến soạn viết văn bia. Ông xã trưởng xã Tử Trầm huyện An Sơn, Nguyễn Hữu Dụng khắc bia.

Như vậy, theo văn bia hậu trên thì ngôi tam quan xây dựng năm Nhâm Thân (1632) đã bị đổ nát. Năm Kỷ Tỵ (1689) nhà sư Lê Huệ làm lại, hoàn thành năm Canh Ngọ (1690)

trang 6

BI HẬU THẬP PHƯƠNG TÍN THỊ THẠCH BI

Thập phương tín chí Nguyễn Xá xã quan viên hương lão thôn trưởng thượng hạ cư công đức.

Tín vãi Lê Thị Lôi hiệu Từ Viên thí điền nhất sở Cửa Núi Hạ.

An Quyết xã Nguyễn Thị Uất công đức. Nguyễn Văn Đồ thê Khương Thị Cán thí điền nhất sở Đồng Kếp xứ.

Từ Liêm huyện, Thanh Khích xã, Hoàng Văn Thông tự Phúc Đại và Nguyễn Thị Tốt công đức.

Kinh Bắc đạo, Từ Sơn phủ, Tiên Du huyện, Hồi Báo xã Nội giám thanh đề, Trung Lộc hầu Nguyễn Hữu Nghĩa thí điền nhị sở Cửa Núi.

Tín vãi Lê Thị Công hiệu Diệu Bình, Vĩnh Lộc thôn, Phùng Xá xã, Thạch Thất huyện công đức.

Sa di Lê Huệ hiệu Chân Linh Chính Giác Quảng Đức thiền sư.

Chính Hòa thập nhất niên tuế thứ Canh Ngọ niên (1690) lục nguyệt cát nhật.

Nguyễn Đăng Tiến soạn bi văn.

Xã trưởng Tử Trầm, huyện An Sơn, Nguyễn Hữu Dụng khắc.

Tấm bia hậu này, nội dung chính là ghi tên của người cúng ruộng vào chùa. Bia ghi văn Nôm, có ít từ Hán, dễ hiểu, chúng tôi xin không dịch.

 

BÀI KÝ KHẮC VÀO QUẢ CHUÔNG

CHÙA SÙNG PHÚC TRÊN NÚI TÂY PHƯƠNG

 

Núi Tây Phương ở thôn Nguyễn Xá, huyện Thạch Thất là một quả núi đẹp, cây cỏ xanh tươi. Núi Câu Lậu xưa kia có nhiều chu sa (son đỏ) tức là chốn này. Trên đỉnh núi có ngôi chùa vắng vẻ nổi tiếng là một cảnh đẹp.

 

Niên hiệu Vĩnh Hựu (triều Lê Ý Tông 1735-1739) có lệnh sai quan Trung sứ xuất của kho ra sửa chữa chùa, khắc tô tượng Phật quy chế rất là lớn, tiếng kệ kinh sang sảng nổi lên.

 

Đến khi thế vận đổi thay cảnh giới đều vắng, chuông đồng bị mất, đài phật hỏng dần, quả là vận số thịnh suy tùy theo vận hội của trời đất đó ư!

Năm Mậu Thân (1788) tôi tránh qua vùng này, bồi hồi thăm hỏi việc xưa. Đã có ý ngày sau dưới bóng tùng lâm nâng chén rượu.

 

Nay gặp thời bình đạo Phật hưng thịnh, các thiện nam tín nữ chung lòng cùng nhau quyên tiền sửa lợp chùa cũ, lại đúc quả chuông hơn hai trăm cân.

Nhân dịp tôi xin tạm nghỉ về thăm tỉnh Tây (Sơn Tây) lên núi viếng chùa, các kỳ lão trong thôn tới xin tôi viết bài ký kể lại công việc. Tôi hơi thông hiểu đạo giữ mình của nhà Phật, hay khuyên người ta làm điều phúc thiện nên mới cầm bút lược thuật đầu đuôi và chép thêm bài minh rằng:

Câu Lậu chót vót

Nước chảy quanh vòng

Một ngọn cao ngút

Vụ trị khơi lòng

 Đạo gửi ở không

Cội gốc khôn cùng

Lòng người bản thiện

Đời đời thủy chung

Nhất hội chủ dực vận công thần đặc tiến đại phu Thị trung ngự sử Thụy Nham Hầu Phan Huy Ích

Đời vua thứ hai triều Nguyễn niên hiệu Cảnh Thịnh năm thứ 6 tháng 4 Mậu Ngọ (1798).

Thập phương công đức. Nhất hội chủ dực vận công thần đặc tiến đại phu Thị trung ngự sử Thụy Nham Hầu Phan Huy Ích cổ tiền mười quan.

Nhất hội chủ Từ Liêm huyện, Tây Đan xã cựu đông các quan thê Hoàng Thị Chiêm cổ tiền bảy quan.

Nhất hội chủ Nghệ An xứ, Thuận Tín châu, Đại Đàn xã, quần vi thôn quan chỉ huy quân xứ Trương Ngọc Hầu Nguyễn Đình Trương thê Trần Thị Miễn cổ tiền năm quan…

Sơn Tây tỉnh, Quốc Oai phủ. Thạch Thất huyện, Nguyễn Xá xã, Triều thôn hưng công dĩ hạ.

Qua các bài văn bia, văn chuông hiện có ở chùa và các nguồn tài liệu cho chúng ta biết:

- Chùa Tây Phương xây dựng lại như ngày nay (thay cho ngôi chùa cổ) từ năm Giáp Dần (1554).

- Năm Canh Tý (1660) chùa tu sửa cả ba ngôi.

- Năm Nhâm Thân (1632) đến năm Ất Hợi (1635) chữa điện thượng nhà hậu, làm mới tam quan và tạc một số tượng, mở hội cúng hô thần an vị tượng.

- Năm Kỷ Tỵ (1689) đến năm Canh Ngọ (1690) tu sửa tam quan.

- Văn chuông ghi: đời vua Lê Ý Tông (1735-1739) niên hiệu Vĩnh Hựu xuất của kho ra sửa chữa chùa và tạc tô tượng phật.

 

Đời vua Cảnh Thịnh (nhà Nguyễn Tây Sơn) năm thứ 6 Mậu Ngọ (1798) đúc chuông 200 cân, sửa chữa chùa và gọi tên là chùa Tây Phương cổ tự như tên gọi hiện nay.

- Tấm bia hậu dựng năm Canh Ngọ (1690) niên hiệu Chính Hòa thứ 11 ghi tên phật tử cúng ruộng vào chùa.

Tính từ năm Canh Tý (1660) cho đến năm Mậu Ngọ (1798) chùa Tây Phương được tu sửa lớn 4 lần; làm tam quan 2 lần.

- Và theo tấm bia nhỏ dựng trong tháp: Năm Canh Thân (1920) sư cụ Thanh Ngọc (dân sở tại gọi là cụ Trôi) tạc pho tượng Quan Âm trăm tay và tượng Thiện Tài Long Nữ thờ ở chùa Hạ.

trang 7

VÀI NÉT GIỚI THIỆU TƯỢNG LA HÁN VÀ KIM CƯƠNG CHÙA TÂY PHƯƠNG

 

Thế kỷ thứ 18 chế độ phong kiến Việt Nam suy yếu về chính trị, khủng hoảng về kinh tế, xã hội nghèo nàn đời sống nhân dân vô cùng cực khổ.

 

“ Dưới chế độ vua Lê chúa Trịnh đời sống nhân dân lâm vào cảnh vô cùng bi đát. Hạn hán, lụt, mất mùa, đói kém, dịch bệnh … như những bóng ma kéo dài năm nay qua năm khác.

 

Nhiều nạn đói khủng khiếp lan tràn, đặc biệt dữ dội là nạn đói năm Tân Tỵ (1741) dân bỏ cả cày cấy; thóc lúa dành dụm trong làng đều hết sạch; dân lưu vong bồng bế dắt díu nhau đi đầy đường; giá gạo cao, một trăm đồng tiền không đổi được một bữa ăn. Dân sống nhờ rau cỏ, người chết đói ngổn ngang.

 

Hàng chục vạn nông dân chết thê thảm trong những nạn đói như vậy…”

 

Trong nước nhiều nơi nông dân tự vũ trang chống lại bọn tham quan gian ác, giành lấy bát cơm manh áo. Năm Đinh Tỵ (1737) nhà sư Nguyễn Dương Hưng cầm đầu cuộc khởi nghĩa ở Tây Sơn, đó là cuộc khởi nghĩa tâm đạo, vì cơm áo của nhân dân cùng khổ.

 

Nhóm tượng La Hán chùa Tây Phương được các nghệ nhân đương thời, hữu ý hay vô tình đã mượn sự tích tu hành của các vị đệ tử Phật (theo Đại Tạng kinh bộ sử, chuyện Phật tổ lịch đại thông tải quyển ba; do ông Đại Nguyên cư sĩ biên dịch) để mô tả những con người sống trong xã hội đương thời. Qua nghệ thuật tạc tượng, chạm khắc những đường nét tài tình điêu luyện diễn tả nội tâm, ngoại hình từng vị, buồn vui lẫn lộn, suy tưởng, giả say thiếu ngủ…

 

Nhóm tượng La Hán dễ gợi cho chúng ta niềm thông cảm với những con người phải sống trong cảnh “Một trăm đồng tiền không được một bữa no”. Nét mặt khắc khổ từ bi, từng nếp nhăn trên vầng trán, từng mạch máu, đường gân thớ thịt, khớp xương, đôi môi, con mắt đến trang phục quần áo xiêm đều được bàn tay nghệ nhân khắc họa diệu kỳ, thể hiện nội tâm, ngoại hình hài hòa tuyệt mỹ.

 

          Nhóm tượng La Hán gồm 18 vị: (Bộ ảnh 18 vị La Hán)

 

1. Tổ thứ nhất: Ma-ha-ca-diếp, họ Bà-la-môn, nước Ma-kiệt-đà

2. Tổ thứ hai: A-nan-đà họ Sát-đá-lỵ, người thành Vương Xá, nước Ca tỳ La-vệ là con ông chú ruột của Phật. Ngài còn có tên gọi là Khánh-hỷ.

3. Tổ thứ ba: Thương-na-hòa-tu, họ Tỳ-xá-đa, người nước Ma-đột-la.

4. Tổ thứ tư: Ưu-ba-cúc-đa, dòng họ Sư-đà-la, người Cha-ly.

5. Tổ thứ năm: Đề-ca-đa, người nước Na-già.

6. Tổ thứ sáu: Di-a-gia-ca, người nước Trung-Ấn.

7. Tổ thứ bảy: Bà-tu-mật, người nước Bắc-Thiên-Trúc, dòng họ Pha-la-đọa.

8. Tổ thứ tám: Phật-đà-nan-đề, người nước Ca-ma-na, dòng họ Cù-đàm.

9. Tổ thứ chín: Phục-đà-mật-đa, người nước Đề-ca, dòng họ Tỳ-xá-la.

10. Tổ thứ mươi: Hiếp-tôn-giả, người nước Trung-Ấn.

11. Tổ thứ mười một: Phú-na-dạ-sa, người nước Hoa-chi.

12. Tổ thứ mười hai: Mã-minh-đại-sỹ, người nước Ba-la-nại. Ngài còn có tên là Công- thắng.

13. Tổ thứ mười ba: Cà-tỳ-ma-la, người nước Hoa-chi.

14. Tổ thứ mười bốn: Long-thụ-tôn giả, người nước Tây-Thiên-Trúc. Ngài còn có tên là Long-thắng.

15. Tổ thứ mười lăm: Ca-na-đề-bà, người nước Nam-Thiên-Trúc, dòng họ Tỳ-xá-la.

16. Tổ thứ mười sáu: La-hầu-la-đa, người nước Ca-tỳ-la.

17. Tổ thứ mười bảy: Tăng già-nan-đề là con vua Trang-nghiêm thành Thất-la-phiệt.

18. Tổ thứ mười tám: Cưu-ma-la-đa, người nước Đại-nhục-chi, dòng họ Bà-la-môn.

 

Nhóm tượng Kim Cương chùa Tây Phương được nghệ nhân thể hiện hình tượng các vị tướng nhà trời, cưỡi mây xuống cứu nhân độ thế oai phong lẫm liệt, từ trang phục áo mũ xiêm y, đai khăn hia đáp đến dáng đứng trên mây cuồn cuộn, vũ khi cầm tay, vẻ mặt căm giận, các tư thế tiến công với cả sức mạnh phi thường và chiến thăng.

 

Nhóm tượng này gồm 8 vị:

  1. - Thanh Trừ Tai Kim Cương.
  2. - Thanh Tịch Độc Kim Cương.
  3. - Xích Thanh Hỏa Kim Cương.
  4. - Đại Thần Lực Kim Cương.
  5. - Hoàng Trùy Cầu Kim Cương.
  6. - Bạch Tịch Thủy Kim Cương.
  7. - Định Trừ Tai Kim Cương.
  8. - Từ Hiền Kim Cương.

 

Qua bao biến đổi của lịch sử, tượng La Hán , Kim Cương chùa Tây Phương để lại trong lòng mỗi du khách ấn tượng sâu sắc về nền nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam kỳ diệu. Trong cuốn Lịch sử Việt Nam, tập I (trang 408) ghi: “ Đặc biệt, nghệ thuật điêu khắc tượng thế kỷ 18 đã đạt đến trình độ điêu luyện, chứng tỏ tài năng sáng tạo tuyệt vời của nghệ sỹ dân gian.

 

Chùa Tây Phương là nơi tập trung nhiều pho tượng có giá trị, nhất là tượng Tuyết Sơn và mười tám vị tổ. Các pho tượng lấy đề tài trong sự tích đạo Phật nhưng vẫn thể hiện con người Việt Nam rất hiện thực và gợi cảm. Đó là những kiệt tác nghệ thuật biểu thị tài năng bậc thầy của những nghệ sỹ đương thời”.

trang 8

 BÁC HÔ THĂM DI TÍCH CHÙA TÂY PHƯƠNG

 

Vào khoảng trưa ngày 19 tháng 5 năm 1959 đúng dịp kỷ niệm lần thứ 69 ngày sinh của mình, Bác đã đến thăm di tích kiến trúc nghệ thuật cổ kính chùa Tây Phương, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (cũ). Nơi đây, trong những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, ngày 13-1-1947, Bác Hồ đã có dịp qua đây và làm việc mười chín ngày đêm tại xóm Lài Cài, xã Cần Kiệm (huyện Thạch Thất).

 

Xe của Bác dừng lại sân chân dốc, Bác cùng mấy cán bộ thư thả đi lên. Bác không nghỉ mà leo thẳng một mạch lên chùa mặc dù lúc đó dốc chùa chưa xây bậc như hiện nay, đường lên chùa rất khó đi.

 

Gặp hai sinh viên trường Mỹ Thuật đang ghi lại kiến trúc của chùa, Bác hỏi chuyện và bảo:

- Đây là một trường học thực tế. Ngày xưa dân ta đã có những bàn tay thợ tài hoa điêu luyện như thế này, các cháu phải tìm hiểu vốn quý này để học tập và bảo vệ những tài sản của ông cha…

Rồi Bác bảo với cán bộ địa phương:

 

Di tích thế này mà đường đi lại thế này là không xứng, các chú phải góp ý với địa phương sửa sang đường xá cho dân đi lại tham quan dễ dàng.

 

Ra sân ngồi nghỉ, mấy Bác cháu quây quần trò chuyện, Bác kể gốc tích đạo Phật ở Ấn Độ nơi Bác có dịp đến thăm.

 

Cho đến khoảng 4 giờ chiều Bác mới ra về. Vì Bác đến bất ngờ lại giản dị trong bộ áo quần gụ như một lão nông nên không ai biết.

 

Thực hiện lời Bác dạy, sau này Đảng bộ và chính quyền huyện xã cùng với ngành văn hóa đã sửa lại đường lên chùa, Xây 237 bậc bằng đá tổ ong là loại vật liệu độc đáo khai thác ở địa phương…

Trọng Đông

                                                    (Nguyệt san Người cao tuổi số 27 tháng 5-1999)

 XÂY DỐC LÊN CHÙA

 

Con đường đi lên chùa Tây Phương thường gọi là dốc chùa, người xưa kê bằng đá ong mỗi bậc bốn viên (0,80m). Có tất cả 238 bậc theo đường đất núi tự nhiên dài 81 ngũ (thước ta) bằng 162 mét.

 

Thời gian mưa nắng, dốc chùa bị nước chảy xói mòn hai bên thành rãnh sâu. Dân xóm ở hai bên dốc nuôi trâu bò đi lên xuống, dốc càng bị xói mòn. Dần dần những bậc đá ong ở giữa vỡ lở chon von, có bậc chỉ còn một, hai viên, khách hành hương lên xuống rất vất vả.

 

Nhiều lần, cơ quan văn hóa vận động dân địa phương khắc phục sửa chữa dốc chùa, nhưng chỉ một thời gian mưa nước khiến hai bên rãnh chảy bị xói mòn sâu đến 0,90m so với mặt bậc.

 

Năm 1971 Vụ Bảo tồn bảo tàng, đề xuất kế hoạch xây lại dốc chùa, cùng Ty Văn hóa tỉnh Hà Tây (cũ) thông qua UBND tỉnh để trình Bộ Văn hóa xin kinh phí.

 

Yêu cầu của kể hoạch là giữ nguyên không gian của dốc: Có đoạn thẳng, có đoạn vòng theo chiều dốc núi tự nhiên của dốc cũ; xử lý kỹ thuật tốt những đoạn dốc và rãnh chảy nước bị xói mòn sâu.

 

Bậc xây bằng nguyên liệu đá ong tốt với xi măng cát; rãnh nước chảy xây gạch loại một với xi măng cát, đảm bảo không ứ đọng nước.

 

Sau khi khảo sát, đo đạc cụ thể: Chiều dài từ sân cửa dốc (gốc Cây Đa) lên đến bậc gạch sân chùa là 162m. Chỗ rộng nhất lúc bấy giờ là 3,20m; chỗ hẹp là 2,60m. Bậc cũ đếm có 238 bậc.

 

Đến mùa xuân năm Quý Sửu (1973) Cục trưởng cục Bảo tồn bảo tàng lên chùa Tây Phương trực tiếp khảo sát, bàn bạc với lãnh đạo Ty Văn hóa lúc bấy giờ.

 

Sau khi duyệt lại kế hoạch, kinh phí xây dốc được duyệt là 18.000đ ( mười tám ngàn đồng). Lúc đó có người nói vui: “Xây 162 mét đương sân bay ah?...”

 

Việc thực thi kế hoạch xây dốc chùa khi đó có nhiều thuận lợi. Ngay sau hơn một tuần, Cục Bảo tồn bảo tàng đã ký chuyển đủ cho mười tám ngàn đồng theo đề nghị. Hợp tác xã Tây Cầu cung cấp gạch và thợ xây, nhân lực phục vụ; Ủy ban kế hoạch tỉnh Hà Tây (cũ) duyệt cấp cho mua xi măng. Hợp tác xã Kim Quan bán chọn đá ong tốt.

 

Thời gian khởi công cũng phát sinh ra nhiều ý kiến, nhất là ý kiến phản đối việc xây bậc bằng gạch của hợp tác xã sở tại.

 

Sau khi thảo luận, nhận ra yêu cầu tôn tạo di tích lịch sử vô giá này, các bậc bằng gạch đã xây được dài 22 mét phải phá bỏ. Công việc được tiếp tục tiến hành đến tháng 4-1974 thì hoàn thành.

 

Con đường dốc chùa Tây Phương dài 162 mét được xây đủ 238 bậc dài ngắn khác nhau theo bậc cũ của người xưa đã bố trí, chiều ngang của dốc là 0,2m (một ngũ).

 

Cho đến mùa thu năm Kỷ Mão (1990), hai mươi sau năm qua, những bậc lên chùa đã in bao dấu chân của khách hành hương đến chiêm ngưỡng cảnh chùa với tâm linh mơ ước hạnh phúc an lạc phồn vinh.

trang 8

SƠ TÁN CẤT GIẤU TƯỢNG PHẬT

CHÙA TÂY PHƯƠNG

 

Năm Đinh Mùi (1967) Mỹ leo thang ra đánh phá miền bắc nước ta ác liệt. Chính phủ có chủ trương sơ tán tượng La Hán và tượng Kim Cương chùa Tây Phương đi cất giấu bảo vệ.

 

Bộ Văn hóa cùng UBND tỉnh Hà Tây (cũ) thống nhất kế hoạch chỉ đạo, giao cho Vụ Bảo tồn bảo tàng, Ty Văn hóa và các cơ quan an ninh trực tiếp thực hiện kế hoạch theo yêu cầu từng bước.

 

Bước một, họp bàn phổ biến chủ trương của Chính phủ với  nhân dân sở tại, nhất trí chuyển đi sơ tán, cất giấu, bảo vệ nguyên bản tượng không được tháo dỡ.

 

Bí mật an toàn, Xưởng phục chế tu sửa do Vụ Bảo tồn bảo tàng tổ chức tuyển chọn nghệ nhân đảm bảo kỹ mỹ thuật khi phục chế tượng

 

Bước hai, từng đợt chuyển tượng gốc về xưởng phục chế; khi phục chế xong thì chuyển tượng phục chế lên chùa đặt vào vị trí tượng gốc, còn tượng gốc nguyên bản đem cất giấu ở những địa điểm đã được lựa chọn, có nơi thờ cúng, có người trông coi bảo quản.

 

Như vậy, vừa chuyển tượng gốc đi phục chế và sơ tán cất giấu, cũng đồng thời chuyển tượng phục chế lên chùa trưng bày phục vụ khách hành hương thăm cảnh. Lúc bấy giờ thời gian yêu cầu rất khẩn trương, đảm bảo càng xong sớm càng đỡ lo ngại.

 

Chỉ trong vòng một thời gian ngắn xưởng đã phục chế xong 16 pho tượng La Hán, 8 pho tượng Kim Cương, 1 pho Tuyết Sơn đạt yêu câu kế hoạch.

 

Sau kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, Tổ quốc Việt Nam thống nhất, được phép của Chính phủ, Bộ Văn hóa cho chuyển các pho tượng La Hán và tượng Kim Cương nguyên bản gốc trả về chùa Tây Phương ( còn tượng phục chế cho chuyển về xưởng phục chế).

 

Những pho tượng La Hán nhỏ, nhẹ dễ chuyển đi chuyển về. Riêng tám pho tượng Kim Cương vừa to vừa nặng ( gần 300 kg) lại cồng kềnh phải đảm bảo nguyên bảo, không được tháo dỡ nên khi chuyển tượng đi sơ tán cũng như chuyển về gặp rất nhiều khó khăn.

 

Trước hết phải tốn công sửa con đường dốc vòng sau chùa, khi chuyển tượng xuống thì dùng xe trượt có dây tời giữ. Khi đưa tượng lên dốc thì vô cùng vất vả vì không thể dùng xe trựơt được mà phải dùng xe bò kéo buộc dây chão dài vào thân xe theo hai càng xe, giữa là cuộn dây tời neo. Hai bên bánh xe có bốn người khỏe theo bắt bánh xe và chèn.

 

Tượng được đóng thành kiện như kiện hàng lớn dùng lõi chăn bông đệm chèn cận thẩn.

 

Lúc chuyển tượng về chùa các cụ, các đại biểu, nhân dân địa phương, khách hành hương may có nhân duyên gặp đều tham gia kéo, đẩy rất đông vui. Sự cụ Đàm Thanh cùng các tín vãi theo xe niệm phật. Mỗi đợt kéo lên, tiếng reo hò âm vang cả khu núi đồi Câu Lậu. Vào một ngày mùa thu năm 1975 những pho tượng cuối cùng được chuyển lên chùa, đặt vào vị trí cũ.

 

Công việc cách đây đã 24 năm. Mỗi mùa thulên chùa Tây Phương, chiếm ngưỡng các pho tượng cổ của chúng tôi lại hồi tưởng công việc nhỏ bé thầm lặng của mình, những người đã góp phần vào việc bảo vệ di sản Văn Hóa của đất nước trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc.

Mùa thu Kỷ Mão

                                                                         Nguồn: Cuốn Chùa Tây Phương - Nguyễn Đưc Bang - NXB Văn Hóa Dân Tộc - 2010

 

 

 

 

 

 

 

Sự chỉ đạo

Tin mới cập nhật

Dân số
 Dân số  199 470 người
 Mật độ  108 người/km²
Địa lý
 Trụ sở
 Thị trấn liên quan
 Vị trí  Phía Tây Hà Nội
 Diện tích  184,5905 km2
 Xã,Thị trấn  22 xã, 1 thị trấn

Lượt truy cập